|
|
CHUẨN BỊ RA BẮC
Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ
Đức. Chúng ta hăy nghe ông Nguyễn Thanh Giàu, một chức sắc của Giáo Hội Phật
Giáo Ḥa Hảo, kể lại chuyện gặp ngài tại trại Thủ Đức như sau:
“Lúc ấy khoảng 2 giờ chiều, trong khi chúng tôi đang kê khai lư lịch vào
cuốn sổ của trại th́ từ ngoài cổng, một toán bảy người đang đi về phía pḥng
chúng tôi, trong đó tôi nhận ra có Đại Tá Lư Bá Phẩm, tỉnh trưởng tỉnh Khánh
Ḥa (Nha Trang), c̣n những người kia th́ hoàn toàn xa lạ, tuy nhiên có một
người khi vừa trông thấy làm tôi thật ngạc nhiên, v́ dù trong lớp áo b́nh
thường như bao người khác, nhưng h́nh như ở người đó thoát ra một điều ǵ
rất đặc biệt, rất trong sáng và tôi thầm nghĩ đây không phải là một người
tầm thường. Rồi cũng như những người đến trước, mọi người kê khai tên tuổi
và chức vụ của ḿnh, chừng đó tôi mới biết vị trung niên rất đẹp trai, mặt
mày rất sáng sủa kia là vị Giám Mục giáo phận Nha Trang Nguyễn Văn Thuận, và
sau đó anh em Công giáo bắt đầu bu quanh Ngài để nghe Ngài nói chuyện...
“Trong thời gian ngắn ngủi, chỉ có một tuần lễ, sống chung pḥng với
Đức TGM Nguyễn Văn Thuận tại trại Thủ Đức, qua cung cách xử thế và đức độ
của Ngài đă khiến tôi ngày càng kính trọng hơn...”
Tiếp đến là giai doạn chuẩn bị lên đường ra Bắc. Chúng ta hăy nghe ông
Nguyễn Thanh Giàu kể tiếp:
“Sau màn khám xét, đồ đạc chúng tôi được cho vào những bao bố được buộc bởi
những dây nylon đủ màu, xanh, vàng, trắng, đỏ...
“Tâm sự chúng tôi cực kỳ hoang mang, không biết số phận ḿnh ra sao, họ sẽ
đưa ḿnh đi đâu đây? Có người đoán họ sẽ đưa chúng tôi ra Phú Quốc, người
th́ nói Côn Sơn, Bà Rá, v.v... nhưng có người biết chúng tôi sẽ ra Bắc: Đó
là Đức Cha Thuận. Có lẽ Ngài c̣n biết rơ họ sẽ đưa chúng tôi đi bằng đường
biển, cho nên những ngày sau đó, Ngài đến từng anh em thăm hỏi và cho thuốc
những người đang bị bịnh, tôi nhớ có một người gốc thiểu số tên là Điểu
Ngang, đang bị bịnh rất nặng, và Cha Thuận đă tặng cho anh nầy nhiều thuốc
để điều trị. Đức Cha Thuận c̣n phân phối thuốc say sóng, chống ói cho anh em
và Ngài đă thuật lại câu chuyện khi Ngài từ Sài g̣n đi đến Marseille bằng
đường biển Ngài bị say sóng rất nhiều. Ngài khuyên mọi người khi đi tàu nên
nhịn ăn nhịn uống, khi nào đói lắm hăy ăn, khát lắm mới uống, v́ khi say
sóng nó sẽ ói đến khi trong người không c̣n ǵ để ói mới thôi.”
TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC
Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền
Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Khi ra đi, v́ không có ǵ để
đựng các đồ tùy thân, ngài phải lấy cái quần cột hai ống lại và dồn đồ vào
trong rồi mang đi. Chúng ta hăy nghe chính ngài kể lại các diễn biến này:
“Ngày mồng 1 tháng 12 năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất th́nh ĺnh tôi bị gọi
cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị xích người này với người kia từng
hai người một và được đẩy lên một xe cam nhông. Cuộc hành tŕnh ngắn đưa
chúng tôi tới Tân Cảng, là hải cảng quân sự mới do người Mỹ mở mấy năm trước
đó. Chúng tôi trông thấy một con tàu trước mặt, hoàn toàn ch́m trong bóng
tối để dân chúng khỏi để ư. Chúng tôi bị đưa lên tàu đi ra Bắc - một cuộc
hải hành dài 1.700 cây số...
“Cùng với các tù nhân khác, tôi bị đem xuống hầm tàu, nơi chứa than. Chỉ có
một ngọn đèn nhỏ leo lét cháy. C̣n lại là hoàn toàn tối om. Chúng tôi tất cả
là 1.500 người, trong t́nh cảnh không thể tả được. Một cơn băo nổi dậy trong
tâm trí tôi. Cho tới nay tôi c̣n ở trong giáo phận của tôi, nhưng từ giờ
phút này trở đi không biết tôi sẽ phiêu bạt tới chân trời góc bể nào. Tôi
suy niệm lời thánh Phaolô nói: “Tôi đi Giêrusalem mà không biết điều ǵ sẽ
xẩy ra cho tôi ở đó. Tôi chỉ biết rằng Chúa Thánh Thần khuyến cáo tôi rằng
tại mọi thành tôi tới, xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi.” (Cv
20,22,23). Tôi đă sống trong lo âu suốt đêm hôm ấy.
“Ngày hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào hầm tàu, tôi nhận ra
chung quanh tôi những gương mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân khác.
Bầu khí sầu thảm như đám tang. Một trong các tù nhân đă t́m cách treo cổ tự
tử với một sợi dây thép. Những người khác gọi tôi. Tôi đến nói chuyện với
anh. Sau cùng anh lắng nghe lời tôi. Cách đây hai năm, trong một cuộc họp
liên tôn tại California, tôi đă gặp lại anh. Mặt mừng rỡ, anh tiến tới gặp
tôi và cám ơn tôi. Anh đă cho mọi người xem các vết thẹo c̣n hằn trên cổ.
“Trong cuộc hành tŕnh, khi các tù nhân biết có Giám Mục Nguyễn Văn Thuận,
họ đến với tôi để kể lể các nỗi lo âu của họ. Tôi đă chia sẻ các đau khổ của
họ và an ủi họ hàng giờ và suốt cả ngày. Trong ba ngày trên tàu, tôi an ủi
các tù nhân khác và tôi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đêm thứ
hai, giữa cái lạnh của Thái B́nh Dương trong tháng 12, tôi bắt đầu hiểu rằng
ơn gọi của tôi bắt đầu một giai đoạn mới. Trong giáo phận, tôi đă đưa ra các
sáng kiến khác nhau cho công tác rao truyền Tin Mừng cho người bên lương.
Giờ đây phải cùng Chúa Giêsu đi về nguồn gốc của việc loan báo Tin Mừng.
Phải cùng Ngài đi chết “bên ngoài tường thành”, “bên ngoài tường thánh.”
Tôi là người đă cùng đi trên chuyến tàu này với ngài, nhưng bị giam ở một
khoang tàu khác. Ông Nguyễn Thanh Giàu, người bị giam chung cùng khoang với
ngài đă tóm lược lại những ǵ đă xẩy ra trong khoang tàu của ngài như sau:
“Suốt mấy ngày ngồi dưới sàn tàu chở than dơ bẩn, lại thêm mấy thùng chứa
phân, chứa nước tiểu bị tràn ra ngoài, mọi người như ngồi trên hầm phân. Đức
Cha Thuận một lần nữa lại an ủi anh em, cố gắng giữ vững tinh thần, nếu để
tinh thần sa sút bị bịnh lúc nầy th́ rất là khổ.”
MỘT NHÀ TU HÀNH ĐÁNG KÍNH
Ngày 3.12.1976 tàu cập bến Hải Pḥng. Công an chia các tù nhân thành ba toán
khác nhau theo dấu hiệu họ đă gắn ở mỗi người và đưa mỗi toán đến một trại
khác nhau: Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang và Thanh Cẩm (Thanh Hóa). Riêng Đức
TGM Nguyễn Văn Thuận bị đưa lên trại Vĩnh Quang ở Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc và Phú
Thọ cũ), nằm sát chân núi Tam Đảo. Ông Nguyễn Thanh Giàu đă đi cùng trong
toán này, nên đă kể lại một số chuyện về ngài trong thời gian ở trại Vĩnh
Quang như sau:
“Họ chia chúng tôi thành từng đội, từng tổ và phân chia lao động. Tôi nhớ,
khi phân công, anh em không muốn Ông Già, danh xưng để gọi Đức Cha Thuận v́
lúc nầy cán bộ trại không cho gọi ai theo chức sắc tôn giáo, phải đi lao
động nặng nhọc nên đề cử cho ông làm trực buồng, tức là ở nhà lo lấy thức
ăn, sắp xếp chăn mền, dọn dẹp buồng và đương nhiên phải đi đổ phân hằng
ngày.
“Anh em xin Ngài cho anh em thay Ngài làm công việc dơ bẩn nầy, nhưng Đức
Cha Thuận không đồng ư và Ngài bảo: Tôi rất vinh dự được đi tù chung với anh
em, xin anh em hăy để tôi làm hết bổn phận của tôi. Có lần v́ Trời quá rét,
nhiệm vụ người trực buồng phải đi lấy than đá đem về pḥng để sưởi, v́ bao
than quá nặng trên đường về Ngài suưt mấy lần bị té ngă nhưng Ngài gắng
gượng mang được về pḥng, bỏ bao than xuống Ngài phải ngồi hồi lâu mới lấy
lại sức...
“Có một điểm rất đặc biệt, khi cán bộ trại giam bắt tất cả tù nhân lên hội
trường, là một gian nhà trống giữa sân trại, để làm bản tự khai... Sau vài
giờ viết tự khai, họ cho nghỉ giải lao, người th́ đi uống nước, đi vệ
sinh,hút thuốc, nhưng phần đông th́ bu quanh Ông Già để nghe Ông nói chuyện.
Một cách rất trung thực mà nói, lúc bây giờ bu quanh Đức Cha Thuận không
phải chỉ có giáo dân mà trong đó có đủ thành phần tín đồ các tôn giáo khác
như Phật Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Ḥa Hảo. Riêng tôi, là một tín đồ Phật
Giáo Ḥa Hảo, lúc bấy giờ tôi không nh́n Đức Cha Thuận là Một Đức TGM Công
Giáo mà nh́n Ngài là MỘT BẬC CHÂN TU, MỘT NHÀ TU HÀNH ĐÁNG KÍNH.”
ĐƯA ĐẾN TRẠI THANH LIỆT
Sau thời gian lấy lời khai tổng quát và phân loại, ngày 5.2.1977 ngài bị
tách ra và đưa vào giam ở trại Thanh Liệt thuộc huyện Thanh Tŕ, phía Nam Hà
Nội. Huyện này trước thuộc tỉnh Hà Đông, rồi Hà Tây và nay là một huyện
ngoại thành của Hà Nội. Xă Thanh Liệt là quê của Chu Văn An. Trước khi rời
trại Vĩnh Quang, một tù nhân đă lấy cái bao tải chùi chân ở cửa ra vào, giặt
sạch và may lại thành cái bao cho ngài đựng các đồ cần thiết.
Trại Thanh Liệt được thiết lập ngay trong Đ́nh Thanh Liệt. Nh́n bên ngoài,
không ai có thể biết được đó là một trại giam. Cổng trại là một cổng đ́nh to
lớn, đồ sộ. Qua khỏi cổng trại là một khu rộng thênh thang, chung quanh có
hai lớp tường kiên cố. Trại được chia thành nhiều khu nhỏ: A, B, C, D... Mỗi
khu có 7 hoặc 8 buồng, mỗi buồng dài 8 thước và rộng 2 thước 50. Mỗi buồng
có hai cửa dày bằng gỗ, chung quanh có tường cao khoảng 5 thước. Đây là nơi
được dùng để giam những nhân vật quan trọng hoặc những người cần được khai
thác. Mỗi buồng thường giam một người, nhưng cũng có khi hai người. Trước
đây, trại Thanh Liệt cũng là nơi giam giữ các tù binh Mỹ. Linh mục Trần Hữu
Thanh bị giam ở pḥng 5D, ông Nguyễn Tư Thái (Thái Đen) bị giam ở pḥng 3D,
c̣n Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị giam ở pḥng 7D...
Trong thời gian bị giam ở trại này, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị thẩm vấn
liên tục về đủ mọi vấn đề, từ nội bộ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, các
thành phần linh mục bị coi là chống chính quyền, các thành phần linh mục
đang tham gia các hoạt động của chính phủ... đến các tổ chức chính trị ở
miền Nam Việt Nam. Đa số những người đến thẩm vấn là các công an cao cấp
được Bộ Nội Vụ phái đến. Việc đối đầu với các công an loại này không phải là
chuyện dễ dàng.
Sau này, khi ghi lại những đoạn ngắn về thời gian bị giam giữ, ngài có viết
như sau:
“Trong 9 năm bị biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không
có cửa sổ. Có khi đèn diện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại ở
trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp v́ nóng bức
và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ, với 8
năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vặt bởi ư nghĩ
phải bỏ giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự
phẫn uất nổi lên trong tôi.
“Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi: “Tại sao con day
dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa.
Tất cả những ǵ Người đă làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm
mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường
học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo... đều là việc rất tốt và đúng
là công việc của Thiên Chúa chứ không phải Thiên Chúa! Nếu Chúa muốn con rời
bỏ các việc đó, hăy bỏ ngay và hăy tín thác nơi ngài! Thiên Chúa sẽ giao
việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con đă chọn Chúa chứ không
phải những công việc của Chúa.
"Ánh sáng ấy sẽ đem lại cho tôi niềm an b́nh mới, làm thay đổi hoàn toàn
cách suy tư của tôi và đă giúp tôi vượt thắng những khoảnh khắc hầu như
không thể chịu nổi về phương diện thể lư. Từ đó, một sự an lành tràn ngập
tâm hồn tôi trong suốt 13 năm tù đày...”
Lữ Giang